Chú thích i
Is 39,1
39,1 Câu chuyện cuối cùng này của sách I-sai-a xuất phát từ 2 V 20. Một lần nữa, vua Khít-ki-gia bị lôi cuốn vào những liên minh chính trị khi ủng hộ Ba-by-lon trong cuộc chiến chống lại Át-sua.Ông I-sai-a tiếp tục là người tôi tớ của Thiên Chúa, kiên trì giữ vững lòng tin. Còn ông vua Khít-ki-gia đạo đức, thì chúng ta thấy hình như ông rất ích kỷ, chỉ lo sao cho bản thân mình được yên ổn hơn là lo xây dựng một nền hoà bình bền lâu cho đất nước.SÁCH AN ỦISách I-sai-a kết thúc với biến cố giải thoát Giê-ru-sa-lem. Trong các thế kỷ đầu thời quân chủ, sự quan phòng của Thiên Chúa được biểu lộ rất thường xuyên đến nỗi có vẻ như được bảo đảm chắc chắn, và lần này nữa, đó là một phép lạ nhãn tiền. Xan-khê-ríp đã ngang nhiên vây hãm Thành Thánh và ngạo mạn với Thiên Chúa của Ít-ra-en, nhưng hôm sau thì chạy trốn khỏi Giu-đê để vội vã trở về Ai-cập lúc ấy đang trải qua giai đoạn sóng gió do phong trào nổi loạn gây nên. Về đến nhà, ông bị các con ông đâm chết.Thế nhưng, một thế kỷ sau, Na-bu-cô-đô-nô-xo đánh chiếm Giê-ru-sa-lem, để lại Đền Thờ trong biển lửa và trở về Ba-by-lon, mang theo sau một đoàn tù binh thảm hại. Mọi sự đã sụp đổ, và đức tin bị chất vấn đến tận căn, bởi vì nếu Đức Chúa, Thiên Chúa cứu độ, phải bó tay, thì Người đâu còn là gì nữa.Trong số những người đi lưu đày ở Ba-by-lon có ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Ông quả quyết rằng sau khi các tù nhân biết hối cải nhờ thử thách, sẽ trở về quê hương và tái thiết quốc gia trong công bằng. Nhưng có cần phải hy vọng sau cuộc lưu đày mọi sự sẽ trở lại y như cũ, như dưới triều đại vua Đa-vít (hay đúng hơn, với cái hào quang của thời dĩ vãng như người ta mường tượng)? Thiên Chúa quả là nhiệm mầu, Người dành cho Ít-ra-en điều gì đây?Chính khi ấy, một ngôn sứ ẩn danh xuất hiện. Ông không thuộc hạng người giảng thuyết và tranh luận như các ngôn sứ lớn thuở trước mà mãi sau này người ta mới viết các lời sấm; nhưng ông viết ra các bài thơ và các lời ta thán của mình. Ông vẫn là người ẩn danh, nhưng truyền thống đã gán sách của ông cho ông I-sai-a; sách này gồm các ch. 40 – 55.Có bốn bài thơ gây chú ý nhiều hơn, được người ta gọi là “bài ca người Tôi Trung”. Chúng ta gặp các bài ca này ở 42,1-9; 49,1-7; 50,4-11; 52,13 – 53,12. Nhưng đó không phải là những bài riêng lẻ, mất hút trong một tổng thể xa lạ. Đó là những thời điểm đậm đặc của một thị kiến – hay của một suy niệm, triển khai, trong suốt cuốn sách, các mối tương quan nhiệm mầu giữa Thiên Chúa và dân Người. Người Tôi Trung của Thiên Chúa hẳn nhiên là Ít-ra-en, nhưng ở đây Thiên Chúa có một người Tôi Trung thật quá nghèo nàn, một dân nói chung quá yếu về khả năng nhận thức và hiểu biết. Tuy nhiên trong đó cũng có nhiều người thật sự trung thành, nhiều môn đệ chân chính, được Thiên Chúa mở tai cho họ nắm bắt những gì Người muốn cho họ hiểu. Và rồi trong số họ, Thiên Chúa biết tuyển chọn những tôi trung của Người, tức là các ngôn sứ, những người sẽ đi tiên phong và làm gương cho người khác tiến tới. Vị ngôn sứ này đã vận dụng hình ảnh “người Tôi Trung”; ở phần đầu, chắc chắn đó là toàn thể dân Ít-ra-en, nhưng ở phần cuối hình ảnh ấy lại cuốn hút ngôn sứ đến mức biến thành chân dung Đức Ki-tô, Đấng cứu chuộc trần gian.Không còn nữa những hình ảnh, những biểu tượng của thần tính mà từ thuở khai sinh lịch sử loài người, con người có lòng đạo đã hoạ ra để quy cho Thiên Chúa tất cả những gì trên thế giới là dồi dào khí lực, hùng vĩ và uy nghi. Vàng, đá hoa, gỗ bá hương ở các đền thờ... những bò dê làm lễ toàn thiêu trên các bàn thờ... các áo chùng thêu, túi đeo trước ngực đính đá quý, khăn chít và mũ tế làm phẩm phục cho các tư tế... Trong cuộc thử thách gắt gao thời lưu đày, ngôn sứ nhận từ Thần Khí một mặc khải lạ lùng. Thiên Chúa cứu độ là một Thiên Chúa đầy tình thương và Người yêu thương kẻ khiêm nhường.Thiên Chúa trung thành, hiện diện giữa những kẻ lưu đày, cùng với họ chuẩn bị cứu độ thế giới. Tất cả những đau khổ của dân Thiên Chúa, tất cả những nỗi nhục nhằn của họ: đó chính là cái giá phải trả để chuộc tội lỗi của họ, nhưng hơn thế, đó là đường lối Thiên Chúa đã chọn để biểu lộ tình yêu dịu hiền và quyền năng của Người. Bởi vì, đây là một trong những điều mới mẻ sấm ngôn này nêu ra: Thiên Chúa Ít-ra-en là Đấng Cứu Độ tất cả các nước, nhưng Người muốn rằng Ít-ra-en phải là tôi trung của Người để đem ơn cứu độ này đến mức thành công, và ghé vai mang lấy gánh nặng thế giới.Mặc khải này đi ngược lại với tất cả những khát vọng tự nhiên của chúng ta. Nó lạ kỳ đến nỗi phần đông các người Do-thái trở về từ xứ Can-đê sẽ chóng quên thông điệp; họ không có dự tính nào khác hơn là phục hồi vương quốc cũ của vua Đa-vít. Sau này, khi Đức Giê-su rao giảng Nước Thiên Chúa theo đúng tinh thần của vị ngôn sứ thời lưu đày, thì đa số người Do-thái sẽ nại vào Luật và nghi thức ở Đền Thờ để chống đối Người. Lẫn lộn thành đô của loài người với Thành Đô của Thiên Chúa là một cám dỗ thường xuyên, và các môn đệ của Đức Giê-su, vài thế kỷ sau, sẽ cho thấy họ cũng mù quáng như thế khi nuôi giấc mộng cũ kỹ duy trì xã hội Ki-tô giáo.Thế nhưng, cùng với “Đệ nhị I-sai-a”, như người ta thường gọi, một con đường mới mở ra. Số nhỏ bé còn sót lại, được hai ông A-mốt và I-sai-a loan báo, sẽ đi vào con đường đó. Con đường này sẽ là đường đi của “những người nghèo của Đức Chúa”, những người như Đức Ma-ri-a, các Tông Đồ và các môn đệ, sẽ biết nhận ra Đức Giê-su Na-da-rét là Sứ Giả của Thiên Chúa, Đấng đã từng được hứa qua miệng các ngôn sứ.
Tham chiếu: 2 V 20,12-19