Dân số
Chương 1
I. KIỂM TRA DÂN SỐ
Câu 2. “Các ngươi hãy kiểm tra dân số toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en theo thị tộc và gia tộc, lập danh sách mọi người đàn ông từng người một. Câu 3. Những người từ hai mươi tuổi trở lên, nghĩa là mọi người trong dân Ít-ra-en đến tuổi nhập ngũ, thì ngươi và A-ha-ron hãy liệt kê theo đơn vị của chúng. Câu 4. Mỗi chi tộc còn phải có một người giúp các ngươi, người ấy phải là tộc trưởng.
Nhân viên kiểm tra
Câu 5. Đây là danh sách những người đứng ra giúp các ngươi: “Chi tộc Rưu-vên có Ê-li-xua, con Sơ-đê-ua. Câu 6. Chi tộc Si-mê-ôn có Sơ-lu-mi-ên, con Xu-ri-sát-đai. Câu 7. Chi tộc Giu-đa có Nác-sôn, con Am-mi-na-đáp. Câu 8. Chi tộc Ít-xa-kha có Nơ-than-ên, con Xu-a. Câu 9. Chi tộc Dơ-vu-lun có Ê-li-áp, con Khe-lôn. Câu 10. Con cháu Giu-se: chi tộc Ép-ra-im có Ê-li-sa-ma, con Am-mi-hút, và chi tộc Mơ-na-se có Gam-li-ên, con Pơ-đa-xua. Câu 11. Chi tộc Ben-gia-min có A-vi-đan, con Ghít-ô-ni. Câu 12. Chi tộc Đan có A-khi-e-de, con Am-mi-sát-đai. Câu 13. Chi tộc A-se có Pác-i-ên, con Ốc-ran. Câu 14. Chi tộc Gát có En-gia-xáp, con Rơ-u-ên. Câu 15. Chi tộc Náp-ta-li có A-khi-ra, con Ê-nan.” Câu 16. Đó là những người đại diện của cộng đồng, họ đều là những người phụ trách các chi tộc của họ, chỉ huy quân ngũ Ít-ra-en. Câu 17. Ông Mô-sê và ông A-ha-ron nhận những người vừa được chỉ định đích danh, Câu 18. và triệu tập toàn thể cộng đồng vào ngày mồng một tháng hai. Người ta xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, lập danh sách những người đàn ông, từ hai mươi tuổi trở lên, từng người một. Câu 19. Như ĐỨC CHÚA đã truyền cho ông, ông Mô-sê kiểm tra họ trong sa mạc Xi-nai.
Cuộc kiểm tra
Câu 20. Con cháu Rưu-vên, trưởng nam của Ít-ra-en, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 21. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Rưu-vên, là 46.500. Câu 22. Con cháu Si-mê-ôn, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 23. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Si-mê-ôn, là 59.300. Câu 24. Con cháu Gát, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 25. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Gát, là 45.650. Câu 26. Con cháu Giu-đa, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 27. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Giu-đa, là 74.600. Câu 28. Con cháu Ít-xa-kha, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 29. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Ít-xa-kha, là 54.400. Câu 30. Con cháu Dơ-vu-lun, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 31. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Dơ-vu-lun, là 57.400. Câu 32. Con cháu Giu-se: thuộc chi tộc Ép-ra-im, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 33. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Ép-ra-im, là 40.500. Câu 34. Còn chi tộc Mơ-na-se, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 35. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Mơ-na-se, là 32.200. Câu 36. Con cháu Ben-gia-min, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 37. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Ben-gia-min, là 35.400. Câu 38. Con cháu Đan, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 39. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Đan, là 62.700. Câu 40. Con cháu A-se, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 41. những người được kiểm tra thuộc chi tộc A-se, là 41.500. Câu 42. Con cháu Náp-ta-li, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; Câu 43. những người được kiểm tra thuộc chi tộc Náp-ta-li, là 53.400. Câu 44. Đó là những người đã được ông Mô-sê và ông A-ha-ron kiểm tra cùng với mười hai người phụ trách Ít-ra-en, mỗi người phụ trách gia tộc mình. Câu 45. Tất cả con cái Ít-ra-en đã được kiểm tra theo gia tộc của họ, từ hai mươi tuổi trở lên, tất cả các chiến binh trong dân Ít-ra-en, Câu 46. tổng số người được kiểm tra, là 603.550.
Quy chế các thầy Lê-vi
Câu 47. Còn các thầy Lê-vi, vì quy chế chi tộc của mình, thì không được liệt kê vào số đó. Câu 48. ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê rằng: Câu 49. “Riêng chi tộc Lê-vi, ngươi sẽ không kiểm tra và không liệt kê chung với con cái Ít-ra-en. Câu 50. Nhưng hãy đặt các thầy Lê-vi phụ trách Nhà Tạm Chứng Ước, cũng như mọi vật dụng và tất cả những gì liên quan tới Nhà Tạm đó. Chính họ sẽ lo việc di chuyển Nhà Tạm và mọi vật dụng, sẽ phục vụ và dựng lều chung quanh Nhà Tạm. Câu 51. Khi dời Nhà Tạm, các thầy Lê-vi sẽ hạ Nhà Tạm xuống, và lúc Nhà Tạm dừng lại thì họ sẽ dựng Nhà Tạm lên. Còn ai khác mà tới gần sẽ phải chết. Câu 52. Con cái Ít-ra-en sẽ dựng lều, mỗi người nơi doanh trại mình, theo cờ hiệu của từng đoàn quân. Câu 53. Còn các thầy Lê-vi thì sẽ dựng lều chung quanh Nhà Tạm Chứng Ước. Như thế thịnh nộ (của Ta) sẽ không giáng xuống cộng đồng con cái Ít-ra-en. Các thầy Lê-vi sẽ phụ trách Nhà Tạm.” Câu 54. Con cái Ít-ra-en đã thi hành tất cả mọi điều y như ĐỨC CHÚA đã truyền cho ông Mô-sê.