Kinh Sách

Chúa Nhật Tuần XXVIII - Mùa Thường Niên · Chúa nhật, 11/10/2026

Thánh thi

Ngày rực rỡ vinh quang, Đức Ki-tô hiển thắng, Ngày hân hoan vô tận, Ngày thứ nhất trong tuần, Kính chào ngày xán lạn. Nhìn ánh sáng Ki-tô, Mắt người mù bừng mở, Ngục âm ty tan vỡ, Cùng thần chết tiêu ma, Trời đất lại giao hoà. Muôn loài muôn thế hệ, Qua cuộc sống trần gian Đắm chìm trong tội lệ, Lòng thương xót vô ngần Đã ra tay độ thế. Từ cõi chết phục sinh Tới cải hoàn nhân loại, Đấng trọn bề nhân ái Thương xót chiên tội tình, Vác đưa về thiên giới. Hỡi Mẹ hiền Giáo Hội Nào trổi khúc âu ca, Nhạc thiên cung bừng khởi, Miệng tín hữu vang hoà Bản “Ha-lê-lui-a” ! Thấy âm phủ diệt tan Lòng người vui xiết kể, Khắp mọi miền dương thế Hoà bình Chúa lan tràn, Cả cõi trời hân hoan.

Ca vịnh

Cửa trời rộng mở đón Chúa Ki-tô khi Người lên ngự bên hữu Chúa Cha (thánh I-rê-nê).

Tv 23 (24)

1Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư. * 2Nền trái đất Người dựng trên biển cả, đặt vững vàng trên làn nước mênh mông. 3Ai được lên núi Chúa ? Ai được ở trong đền thánh của Người ? 4Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối. 5Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng. * 6Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp. 7Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, * cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua vinh hiển ngự vào. 8Đức Vua vinh hiển đó là ai ? * Là Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng, Đức Chúa oai hùng khi xuất trận. 9Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, * cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua vinh hiển ngự vào. 10Đức Vua vinh hiển đó là ai ? * Là Chúa Tể càn khôn : chính Người là Đức Vua vinh hiển.

Điệp ca

Ai được lên núi Chúa ? Ai được ở trong đền thánh của Người ?

Ca vịnh

Bài này ám chỉ Chúa Ki-tô phục sinh và muôn dân trở lại (Hê-xi-ki-ô).

Tv 65 (66)

1Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, 2đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, * nào dâng lời ca tụng tôn vinh ! 3Hãy thưa cùng Thiên Chúa : “Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài ! * Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. 4“Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, * và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh.” 5Đến mà xem công trình của Thiên Chúa : * Hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ ! 6Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông ; * việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. 7Chúa uy dũng hiển trị muôn đời ; đôi mắt Người theo dõi chư dân, * quân làm phản chớ có hòng nổi dậy ! 8Nào chúc tụng Chúa Trời chúng ta, muôn dân hỡi, trổi vang lên lời tán dương Người, * 9Người là Đấng bảo toàn mạng sống và giữ gìn ta khỏi lỡ bước sa chân. 10Vâng lạy Chúa, Ngài đã từng thử thách, luyện chúng con như luyện bạc trong lò, * 11đã để cho rơi vào cạm bẫy, gánh nặng nề chồng chất cả trên vai, 12mặc thiên hạ cỡi lên đầu lên cổ. Cơn nước lửa, chúng con từng gặp bao lần, nhưng Ngài đã cứu thoát, đem ra chỗ thảnh thơi.

Điệp ca

Nào chúc tụng Chúa Trời chúng ta, muôn dân hỡi, Người là Đấng bảo toàn mạng sống cho ta. Ha-lê-lui-a.

Ca vịnh

13Mang lễ vật toàn thiêu, bước vào nhà Chúa, con xin giữ trọn điều khấn hứa cùng Ngài. * 14Lời khấn đó, môi này đã nguyện, miệng thốt ra lúc gặp gian nguy. 15Con tiến dâng Ngài bò chiên dê béo tốt, làm lễ toàn thiêu nghi ngút bay lên. 16Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi. 17Vừa mở miệng kêu lên cùng Chúa, tấc lưỡi tán dương, tôi đã sẵn sàng. 18Điều gian ác, nếu lòng này ấp ủ, chắc hẳn là Chúa chẳng nghe đâu. * 19Thế mà Thiên Chúa đã nghe rồi, để tâm đến lời tôi cầu nguyện. 20Xin chúc tụng Thiên Chúa đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, * lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình.

Điệp ca

Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi. Ha-lê-lui-a.

Xướng đáp

XLời Thiên Chúa là lời sống động, Đhữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi.

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng, ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy. Chúng con cầu xin

Bài đọc 1

Hơn nửa thế kỷ sau khi Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, những người Do-thái tù đày tại Ba-ben được phép trở về xứ sở. Đó là những người đã từng được lời hứa của các ngôn sứ nuôi dưỡng ; họ xác tín rằng : cuối cùng các kế hoạch lớn lao của Giao Ước nay mai sẽ thành sự thật : nước Giu-đa sẽ được phục hồi, sẽ thắng kẻ thù là các dân ngoại, cả thế giới sẽ trở lại tôn thờ Thiên Chúa thật, hết mọi người sẽ được hưởng bình an, thịnh vượng. Nhưng sự thật lại rất khác : Những người Do-thái lưu đày trở về vừa bị bọn thư lại của nền hành chánh Ba-tư canh chừng tỉ mỉ, tệ hơn nữa, bị chính anh em đồng bào của mình ghen ghét : đây là những người Do-thái ở lại xứ sở, không mấy thực tâm trở lại với Chúa. Trong tình huống đó, những người mới trở về, vốn đã nghèo, lại thiếu đủ mọi thứ, mới hôm qua còn hân hoan phấn khởi, hôm nay đã thất vọng ê chề. Tâm trạng này dẫn đến buông xuôi trong đời sống luân lý cũng như tôn giáo. Sứ mạng các ngôn sứ thời bấy giờ là khơi dậy các năng lực, làm sống lại niềm cậy trông, nhắc cho dân Chúa biết thời Thiên Sai đã gần, và Thiên Chúa sắp ra tay cứu độ. Khác-gai và Da-ca-ri-a là hai ngôn sứ thi hành sứ vụ trong một thời gian ngắn, mười bảy năm sau khi từ nơi lưu đày trở về. Đó là thời xây dựng lại Đền Thánh. Khởi công ngay từ đầu, công trình đã thất bại vì các quan chức Ba-tư và những người Do-thái giáo gian chống phá. Hoạt động của hai ngôn sứ nhằm vào cá nhân hai nhà lãnh đạo của dân : đó là Dơ-rúp-ba-ven, thuộc dòng tộc các vua Giu-đa, và Giơ-hô-su-a thượng tế. Để kích thích lòng dũng cảm của các ngài, đồng thời để kêu gọi người đồng hương tin tưởng vào các ngài, các ngôn sứ đã giới thiệu các ngài như những vị cứu tinh được Thiên Chúa quan phòng dành riêng nhằm phục hồi đất nước. Một thế kỷ sau, ngôn sứ Ma-la-khi mạnh dạn đứng lên bảo vệ danh dự của Thiên Chúa bị tội lỗi dân Người làm hoen ố. Tâm trạng chán nản đã đưa dân Chúa đến chỗ phạm tội sao nhãng việc thờ phượng, vi phạm lề luật Chúa (đặc biệt tội kết hôn với người ngoại giáo và tội ly dị), khiến cho dân không còn là dân thánh dành riêng cho Chúa nữa. Tất cả các ngôn sứ trên đây đều nại đến một lý lẽ : Chúa đã gần tới rồi. Được lặp đi lặp lại từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, câu này dễ trở thành một sáo ngữ. Tuy nhiên, nếu việc Đức Ki-tô xuất hiện đánh dấu một giai đoạn độc nhất vô song trong lịch sử cứu độ (cho dù các ngôn sứ trên còn phải chờ một thời gian dài), và giai đoạn này sẽ được lặp lại khi Chúa Ki-tô trở lại vinh quang, đời sống của Dân Thiên Chúa không ngừng được đánh dấu bằng những cuộc viếng thăm của Người, những cuộc viếng thăm làm thay đổi lòng dạ của dân Chúa, thôi thúc chúng ta ở trong tình trạng sẵn sàng. Đó là lý do khiến các ngôn sứ trên đây luôn giữ được tính thời sự. Các ngài còn là những chứng nhân từng cảm nghiệm cách sâu xa tình yêu của Thiên Chúa trước thái độ thờ ơ lạnh nhạt luôn đe doạ đối với Hội Thánh Người.

Bài đọc 1

Thiên Chúa nhắc cho dân Người đang chán nản rằng sứ mạng của họ là hoạt động không ngừng. Vào thời điểm đó, họ phải làm việc để tái thiết Đền Thờ. Còn Đền Thờ thiêng liêng là Hội Thánh thì không bao giờ xong cả. Công trình xây dựng đòi chúng ta cố gắng trong tinh thần bác ái yêu thương.

Kg 1,1 – 2,9

Trích sách ngôn sứ Khác-gai. 1 1 Ngày mồng một tháng sáu năm thứ hai triều vua Đa-ri-ô, có lời ĐỨC CHÚA phán, qua trung gian ngôn sứ Khác-gai, với tổng đốc xứ Giu-đa là Dơ-rúp-ba-ven, con ông Sơ-an-ti-ên, và với thượng tế Giơ-hô-su-a con ông Giơ-hô-xa-đắc, như sau : 2 ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này : Dân đó dám nói : “Bây giờ chưa phải là lúc tái thiết Đền Thờ kính ĐỨC CHÚA.” 3 Nhưng có lời ĐỨC CHÚA phán, qua trung gian ngôn sứ Khác-gai, rằng : 4 “Bây giờ có phải là lúc để các ngươi ở trong các nhà có ghép gỗ đóng trần, còn Đền Thờ thì lại hoang tàn đổ nát không ? 5 Vậy giờ đây, ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này : Các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi. 6 Các ngươi gieo vãi nhiều, nhưng thu hoạch chẳng bao nhiêu. Các ngươi ăn mà không đủ no, uống không đủ say, mặc không đủ ấm. Đồng lương của người làm thuê lọt qua túi thủng. 7 ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này : Các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi. 8 Hãy lên núi, đưa gỗ về tái thiết Đền Thờ cho Ta. Ta sẽ vui thích và tỏ vinh quang Ta ở đó, ĐỨC CHÚA phán. 9 Các ngươi mong đợi nhiều, nhưng mùa màng chẳng được bao nhiêu. Các ngươi có đem được những thứ đó về nhà, Ta cũng sẽ thổi bay đi hết. Vì sao vậy ? Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA các đạo binh – vì Nhà của Ta vẫn còn tan hoang, trong khi đó các ngươi ai nấy bận rộn lo cho nhà riêng của mình. 10 Bởi thế, trời đã không nhỏ sương xuống cho các ngươi và đất cũng không sinh hoa màu. 11 Ta đã khiến cho đất đai, núi non, lúa mì, rượu mới, dầu tươi và tất cả hoa màu ruộng đất cũng như người, đàn vật và mọi công trình vất vả phải héo khô cằn cỗi. 12 Bấy giờ, ông Dơ-rúp-ba-ven con ông Sơ-an-ti-ên, thượng tế Giơ-hô-su-a con ông Giơ-hô-xa-đắc và tất cả những người còn sót lại trong dân đã vâng nghe tiếng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của họ, và nghe lời ngôn sứ Khác-gai theo lệnh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của họ, đã truyền cho ông. Dân tỏ ra kính sợ ĐỨC CHÚA. 13 Ông Khác-gai, sứ giả của ĐỨC CHÚA, đã nói với dân lời nhắn gửi ĐỨC CHÚA đã uỷ cho ông như sau : “Chính Ta, Ta ở với các ngươi – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.” 14 ĐỨC CHÚA tác động thần trí tổng đốc xứ Giu-đa là Dơ-rúp-ba-ven con ông Sơ-an-ti-ên, và thần trí thượng tế Giơ-hô-su-a, con ông Giơ-hô-xa-đắc, cũng như thần trí tất cả những người còn sót lại trong dân. Họ đã đến và làm việc trong Đền Thờ ĐỨC CHÚA các đạo binh, Thiên Chúa của họ. 15 Ngày hai mươi bốn tháng sáu... Năm thứ hai triều Đa-ri-ô, 2 1 tháng bảy ngày hai mươi mốt, có lời ĐỨC CHÚA phán qua trung gian ngôn sứ Khác-gai rằng : 2 “Ngươi hãy nói với tổng đốc xứ Giu-đa là Dơ-rúp-ba-ven, con ông Sơ-an-ti-ên, nói với thượng tế Giơ-hô-su-a, con ông Giơ-hô-xa-đắc và nói với những người còn sót lại trong dân rằng : 3 Ai trong các ngươi trong số người còn sót lại đã từng được chứng kiến cảnh rực rỡ vinh quang của Đền Thờ ban sơ ? Và bây giờ các ngươi thấy Đền Thờ như thế nào ? Trước mắt các ngươi, nó chẳng còn là gì nữa đó sao ? 4 Vậy bây giờ, hỡi Dơ-rúp-ba-ven, hãy mạnh bạo lên ! Này thượng tế Giơ-hô-su-a, con ông Giơ-hô-xa-đắc, mạnh bạo lên nào ! Toàn dân trong xứ hãy mạnh bạo lên ! Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Hãy bắt tay vào việc, vì chính Ta ở với các ngươi. Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA các đạo binh. 5 Chiếu theo lời Ta kết ước với các ngươi lúc các ngươi ra khỏi Ai-cập, thần khí Ta ở giữa các ngươi ; các ngươi đừng sợ. 6 Quả thật, ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này : Chỉ còn một thời gian ngắn nữa thôi, Ta sẽ làm rung chuyển trời đất, biển khơi và đất liền. 7 Ta sẽ làm cho tất cả các dân tộc phải chấn động và các kho tàng của các dân tộc sẽ đổ về, rồi Ta sẽ làm cho Đền Thờ này rực rỡ vinh quang. ĐỨC CHÚA các đạo binh phán. 8 Bạc là của Ta, vàng là của Ta – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA các đạo binh. 9 Vinh quang của Đền Thờ lúc này sẽ rạng ngời hơn khi trước, ĐỨC CHÚA các đạo binh phán ; tại nơi này Ta sẽ ban tặng bình an – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA các đạo binh.

Xướng đáp

Kg 1,8 ; Is 56,7c— mở trong Kinh Thánh

XĐức Chúa phán : “Hãy lên núi tái thiết Đền Thờ cho Ta Đvà Ta sẽ vui thích. XNhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân.” Đvà Ta sẽ vui thích.

Bài đọc 2

Trích bài chú giải của thánh Sy-ri-lô, giám mục A-lê-xan-ri-a, về sách ngôn sứ Khác-gai. Thời Đấng cứu độ chúng ta ngự đến, đã xuất hiện một Đền Thánh vinh quang hơn, huy hoàng hơn và cao trọng hơn bội phần so với đền thờ cũ. Càng thẩm định được sự khác biệt giữa phụng tự theo Luật cũ và phụng tự trong Đức Ki-tô theo tinh thần Tin Mừng, giữa hình bóng và thực tại, thì người ta càng thấy điều đó rõ ràng hơn. Về điều này, tôi nghĩ có thể nói như sau : Xưa kia chỉ có một đền thờ và chỉ ở Giê-ru-sa-lem mà thôi ; trong đền thờ đó, một mình dân Ít-ra-en tiến dâng hy lễ. Nhưng sau khi Con Một Thiên Chúa đã làm người như chúng ta –vì Người là Đức Chúa, là Thượng Đế, Người giãi sáng trên ta– thì từ đó trái đất đầy dẫy những đền thánh, và có vô số những kẻ thờ phượng, biết tôn vinh Thiên Chúa của muôn loài bằng những nghi lễ và hương thơm thiêng liêng. Tôi thiết nghĩ đó là điều ngôn sứ Ma-la-khi đã tiên báo nhân danh Thiên Chúa : Chúa phán, Ta là Đại Vương, danh Ta thật cao cả giữa chư dân ; ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính danh Ta. Vậy, vinh quang của đền thờ cánh chung, tức là Hội Thánh, thì lớn lao hơn ; đó là điều có thật. Còn những ai lo lắng và vất vả xây dựng đền thờ này thì được Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ, ban Đức Ki-tô là sự bình an cho mọi người, làm tặng phẩm, làm món quà từ trời xuống, nhờ Người chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha. Thiên Chúa tuyên bố với những người ấy khi nói : Tại nơi này Ta sẽ ban tặng bình an, bình an trong tâm hồn làm của riêng cho mọi người đóng góp xây dựng ngôi đền thờ này. Quả nhiên, nơi khác Đức Ki-tô cũng nói : Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Điều này ích lợi cho những kẻ yêu mến Chúa thế nào thì thánh Phao-lô đã nói : Bình an của Đức Ki-tô, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng trí anh em. Ngôn sứ I-sai-a là người khôn ngoan từng cầu nguyện rằng : Lạy Đức Chúa, Ngài cho chúng con được an cư lạc nghiệp, vì hết mọi việc chúng con làm cũng nhờ Ngài mà được hoàn tất, bởi lẽ những ai đã một lần được Đức Ki-tô thương ban bình an thì dễ giữ linh hồn mình và có thể hướng dẫn tâm trí tập tành nhân đức cho đến cùng. Vậy, Chúa tuyên bố sẽ ban bình an cho bất cứ ai góp phần vào việc xây dựng đền thờ. Quả thật, hoặc họ là kẻ xây dựng Hội Thánh và được đặt lên làm người khải đạo trong nhà Thiên Chúa, cũng gọi là kẻ giải thích các mầu nhiệm thánh ; hoặc họ là kẻ lo cho lợi ích linh hồn mình mà trở thành viên đá sống động và thiêng liêng vươn lên thành ngôi đền thánh, thành ngôi đền Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí. Con người như thế hẳn sẽ được hưởng mối lợi là có thể đạt tới ơn cứu độ chẳng khó khăn gì.

Xướng đáp

Tv 83 (84),5 ; Dcr 2,15a

XLạy Chúa, phúc thay người ở trong thánh điện ; họ Đluôn luôn được hát mừng Ngài. XNgày ấy, nhiều dân tộc sẽ gắn bó cùng Đức Chúa, chúng sẽ thành dân thánh của Ta. Đluôn luôn được hát mừng Ngài.