Giáo phận Hải Phòng

Giáo phận

Giáo phận Hải Phòng

Cũng như hầu hết các Giáo phận tại Việt Nam, Giáo phận Hải Phòng sinh ra trong đau thương và lớn lên trong gian khó. Được hình thành từ ân sủng, cùng với mồ hôi nước mắt của các thừa sai, Giáo phận đã trải qua nhiều thăng trầm và ngày hôm nay đang cố gắng để viết tiếp những trang sử của các bậc Tiền nhân.

Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Hải Phòng

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ GIÁO PHẬN HẢI PHÒNG

I. LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH

Cũng như hầu hết các Giáo phận tại Việt Nam, Giáo phận Hải Phòng sinh ra trong đau thương và lớn lên trong gian khó. Được hình thành từ ân sủng, cùng với mồ hôi nước mắt của các thừa sai, Giáo phận đã trải qua nhiều thăng trầm và ngày hôm nay đang cố gắng để viết tiếp những trang sử của các bậc Tiền nhân.

Ngày 09/09/1659, với Sắc chỉ Super Cathedram Principis, Đức Alexander VII (1655-1667) thiết lập ở Việt Nam hai Giáo phận: Đàng Ngoài và Đàng Trong. Vùng đất Hải Phòng, Hải Dương lúc này đã có những “cư sở”, giáo xứ quan trọng trong Giáo phận tiên khởi Đàng Ngoài như Xứ Đoài, Xứ Bắc, Kẻ Sặt.

Năm 1679, Đức Innocens XI (1676-1689) chia Giáo phận Đàng Ngoài làm hai: Đông Đàng Ngoài và Tây Đàng Ngoài, lấy sông Hồng và sông Lô làm ranh giới. Linh mục François Deydier Phan, thuộc Hội Thừa sai Paris, được đặt làm Giám mục tiên khởi của Giáo phận Đông Đàng Ngoài, lúc đó Toà Giám mục thường ở Phố Hiến (tên một cảng nằm trên tả ngạn sông Hồng, do Nhà Lê mở vào cuối thế kỷ, phía Nam thị xã Hưng Yên ngày nay); sau đời Đức cha Deydier, Toà Giám mục thường đặt ở vùng Bùi Chu, đôi khi ở Kẻ Sặt, Hải Dương.

Ngày 05/09/1848, Đức Piô IX (1848-1878) ban Chiếu thư chia tỉnh Nam Định và tỉnh Hưng Yên, lập thành Giáo phận Trung, phần đất còn lại giữ tên cũ là Giáo phận Đông, do Đức cha Jeronimo Hermosilla Liêm, O.P., giám mục tiên khởi người Tây Ban Nha, coi sóc. Ngày 06/11/1861, ngài tử đạo tại khu Năm Mẫu (Hải Dương). Trong thời Đức cha Liêm, Giáo phận có diện tích đất rộng, lúc này giáo dân đã lên tới con số 45.000, ở rải rác trong 327 xứ và họ trên tổng số dân là 3 triệu người. Toà Giám mục khi ở Nam Am, khi ở Kẻ Mốt (thuộc Bắc Ninh ngày nay). Giáo phận Đông đã có các trường Lý Đoán (Đại chủng viện) và La Tinh (Tiểu chủng viện) ở Đông Xuyên, Kẻ Mốt, Tử Nê.

Ngày 29/05/1883, Đức Lêô XIII (1878-1889) công bố Chiếu thư lập Giáo phận Bắc. Phần còn lại gồm các tỉnh Hải Dương (bấy giờ gồm cả Kiến An), Quảng Yên và Hải Ninh (tức Móng Cái), vẫn giữ tên cũ là Giáo phận Đông do Đức cha Jose Terrès Hiến coi sóc. Toà Giám mục đặt ở Hải Dương. Hải Phòng khi ấy là sở cha chính, nhưng năm 1880, cha chính Salvador Masso Tế đã xây nhà thờ Chính tòa.

Năm 1890, Đức cha Terrès Hiến dời Toà Giám mục từ Hải Dương ra Hải Phòng, còn sở cha chính chuyển sang Liễu Dinh một thời gian rồi đưa về Kẻ Sặt. Hàng giáo sĩ năm 1892 có Đức cha Terrès Hiến, 32 linh mục triều, 8 thừa sai, 2 cha dòng người Việt, 82 thầy giảng, 20 chủng sinh thần học, 20 chủng sinh triết, 20 tiểu chủng sinh, 281 học sinh trường thử và 41.120 giáo dân.

Ngày 03/12/1924, Toà Thánh đổi tên Giáo phận Đông theo địa hạt hành chính, nơi đặt Toà Giám mục, thành Giáo phận Hải Phòng, lúc bấy giờ do Đức cha Francisco Ruiz de Azua Minh, O.P. (1919-1929) coi sóc.

II. ĐỊA LÝ VÀ DÂN SỐ

1. Địa giới hiện nay

Kể từ năm 1883, tức là với việc thành lập Giáo phận Bắc Ninh, Giáo phận Hải Phòng trải dài trên địa dư hành chính của ba tỉnh: Thành phố Hải Phòng, tỉnh Hải Dương, tỉnh Quảng Ninh. Ngoài ra, còn hai huyện của tỉnh Hưng Yên (huyện Ân Thi và Yên Mỹ) cũng thuộc về Giáo phận. Ranh giới phía Bắc là biên giới Trung Quốc, phía Nnam là Thái Bình, phía Đông là biển và phía Tây là Hà Nội.

2. Dân số

Với các tỉnh thành nêu trên, Giáo phận Hải Phòng có diện tích 9.079.10 km2. Dân số là 5.150.000 người, trong số đó, có 134.846 người công giáo (thống kê năm 2017).

3. Giáo hạt và giáo xứ

Từ sau năm 1954, hệ thống giáo hạt không còn, chỉ có 62 giáo xứ trong toàn Giáo phận. Ngày 02/01/2015, Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên đã thiết lập 3 giáo hạt: Hải Phòng, Quảng Ninh và Hải Dương. Ngày 07/10/2015, với quyết định của Đức Giám mục, mỗi giáo hạt nói trên lại được tách làm hai. Như vậy, hiện nay, Giáo phận gồm 6 giáo hạt: Hạt Chính tòa, Hạt Nam Am, Hạt Hòn Gai, Hạt Mạo Khê, Hạt Hải Dương, Hạt Kẻ Sặt.

Vì nhu cầu mục vụ, Đức cha Giuse cũng thiết lập những giáo xứ mới. Từ con số 62 giáo xứ, sau ba đợt thiết lập, hiện nay Giáo phận có 92 Giáo xứ.

4. Dòng tu

Sau năm 1954, Giáo phận không còn một dòng tu nào. Từ năm 2007, Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên đã mời các dòng tu đến hiện diện. Hiện nay, trong Giáo phận có các dòng tu sau đây:

Dòng nam: Dòng Đaminh, Dòng Chúa Cứu thế, Dòng Thánh Thể.

Dòng nữ: Mến Thánh Giá Xuân Lộc, Đaminh Rôsa Lima, Thánh Phaolô, Tiểu Muội, Mân Côi Bùi Chu.

Tu Hội: Tận hiến, Emmanuen.

Tổng số nữ tu: khoảng 97 chị em nữ tu.

5. Đôi nét chính yếu về đời sống giáo dân

Sinh ra trong bách hại, Giáo phận Hải Phòng lại trải qua những thương đau do cuộc di cư năm 1954. Cuộc di dư này để lại rất nhiều hậu quả, những vết thương mà 60 năm sau vẫn chưa được chữa lành. Sở dĩ như vậy, vì Hải Phòng là cảng lớn, giáo dân các Giáo phận khác của miền Bắc đều dồn về đây để xuống "tàu há mồm" di cư vào miền Nam. Vì vậy gần một nửa giáo dân Hải Phòng đã di cư. Đức cha Giuse Trương Cao Đại cũng di cư cùng với một số lớn các linh mục đi với đoàn chiên của mình vào miền Nam. Trước di cư, Giáo phận có khoảng 500 ngôi nhà thờ lớn nhỏ. Hiện nay, sau bao nhiêu năm khôi phục sửa chữa, mới chỉ có 335 ngôi nhà thờ. Trước di cư, Giáo phận có 87 linh mục. Sau di cư con số này là 13, gồm toàn các linh mục cao niên. Trước di cư, số giáo dân là 120.000 người. Gần một nửa trong số đó di cư vào miền Nam. Sau 60 năm, số giáo dân hiện tại là 134.846 người. Sau di cư, các cơ sở đều mất hết: trường học, tiểu chủng viện, nhà hưu, nhà dòng. Nhiều nhà thờ bị tháo dỡ. Nhưng mất mát nghiêm trọng hơn đó là mất đức tin. Vì không có linh mục, tu sĩ, nên giáo dân không được đào tạo. Với sự kiểm soát gắy gao của chính quyền, nhiều người đã bỏ đạo.

Tạ ơn Chúa, trong những năm tháng khó khăn, vẫn có những giáo dân can đảm và trung thành. Họ là những người đã góp phần lưu giữ truyền thống đức tin và giữ gìn di sản vật chất nơi các cộng đoàn tín hữu.

Giáo phận Hải Phòng hiện tại gồm nhiều thành phố và trung tâm đô thị. Vì thế, người giáo dân cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi lối sống hưởng thụ, nhất là giới trẻ. Các xứ miền quê chỉ còn người già và trẻ em vì phần lớn thanh niên đi tìm việc làm ở thành phố. Vì vậy, việc học giáo lý và các sinh hoạt mục vụ dành cho giới trẻ trở nên khó khăn. Tại hầu hết các giáo xứ đều có các hội đoàn đạo đức và có các phong trào tông đồ giáo dân: Legio Mariae, Gia đình phạt tạ Thánh tâm, Huynh đoàn Đaminh giáo dân, Thiếu nhi Thánh thể, ca đoàn, kim nhạc. Các giáo xứ lớn còn duy trì truyền thống của các Giáo phận Dòng Đaminh trong các nghi lễ Tuần Thánh và lòng đạo đức bình dân. Được hưởng di sản truyền thống từ các thừa sai Đaminh Tây Ban Nha, giáo dân Hải Phòng rất yêu mến Đức Mẹ Mân Côi. Tràng hạt Mân Côi đã giúp người tín hữu vượt qua những khó khăn và sống trung thành với Chúa.

III. NHÂN SỰ

Giám mục đương nhiệm: Đức cha Vinh-Sơn Nguyễn Văn Bản
Sinh ngày: 26.11.1956.
Linh mục: 16.9.1993.
Giám mục: 12.5.2009.
Được Tòa thánh bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Hải Phòng ngày 19/3/2022.

Linh mục Tổng Đại diện: Cha Giuse Nguyễn Văn Thông, kiêm Chính xứ Nhà thờ Chính tòa.

Số Linh mục: 88 (83 linh mục triều, 5 linh mục dòng).

Số Phó tế: 7 Phó tế

Số Chủng sinh: 53 (đang học Đại Chủng Viện Hà Nội và các Đại Chủng Viện khác).

Chủng sinh dự bị: 22

Tu sĩ: 102 (tu sĩ nam: 5; tu sĩ nữ: 97)

1. Các vị tiền nhiệm của Đức cha Đức cha Vinh-Sơn Nguyễn Văn Bản 

Tên các Giám mục

Tên Việt

Hội Dòng

Quốc tịch

Năm

Đức cha François Deydier

Phan

MEP

Pháp

1679-1693

Đức cha Raimundo Lezoli

Cao

OP

Italia

1698-1706

Đức cha Juan de Santa Cruz

Thập

OP

Tây Ban Nha

1707-1721

Đức cha Tomaso de Sextri

Tri

OP

Italia

1721-1737

Đức cha Hilariô Costa de Jesu

Hy

Âutinh

Italia

1737-1754

Đức cha Santiago Hernandez

Tuân

OP

Tây Ban Nha

1758-1777

Đức cha Emmanuel Obelar

Khâm

OP

Tây Ban Nha

1779-1789

Đức cha Feciliano Alonso

Phê

OP

Tây Ban Nha

1793-1799

Đức cha Ignatiô Delgado (Thánh Tử đạo)

Y

OP

Tây Ban Nha

1795-1838

Đức cha Phó Domingo Henares (Thánh Tử đạo)

Minh

OP

Tây Ban Nha

1803-1838

Đức cha Hierônimô Hermosilla (Thánh Tử đạo)

Liêm

OP

Tây Ban Nha

1841-1861

Đức cha Phó Romualdo Jimeno

Lâm

OP

Tây Ban Nha

1841-1847

Đức cha Phó Domingo Marti

Gia

OP

Tây Ban Nha

1847-1848

Đức cha Hilariô Alcazar

Hy

OP

Tây Ban Nha

1849-1870

Đức cha Phó Gaspar Fenandez

Nghĩa

OP

Tây Ban Nha

1864-1869

Đức cha Antoniô Colomer

Nguyên

OP

Tây Ban Nha

1870-1883

Đức cha José Terrès

Hiến

OP

Tây Ban Nha

1875-1906

Đức cha Nicasiô Arellano

Huy

OP

Tây Ban Nha

1906-1919

Đức cha Phanxicô Ruiz de Azua

Minh

OP

Tây Ban Nha

1917-1929

Đức cha Alexandrio Garcias

Thiện

OP

Tây Ban Nha

1930-1932

Đọc tiếp bài giới thiệu tại HĐGMVN »

Nguồn: HĐGMVN